in

DIỄN ĐÀN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

--- ĐOÀN THANH NIÊN - HỘI SINH VIÊN TRƯỜNG VẬN HÀNH ---
...

Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam

Last post 03-02-2005 22:45 by hoangtb. 0 replies.
Page 1 of 1 (1 items)
Sort Posts: Previous Next
  • 03-02-2005 22:45

    Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam

    Nguyễn Tấn Dũng

    Phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc trong quá trình phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới. ở nước ta vấn đề này đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, đặc biệt đến Đại hội IX Đảng ta đã nêu thành một quan điểm phát triển hàng đầu là " Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường".

    Gần 10 năm qua, kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) có hiệu lực thi hành, hệ thống luật pháp nước ta về môi trường ngày càng được hoàn thiện. Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 36 ngày 25/6/1998 về " Tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước". Trên cơ sở đó, Chính phủ đã giao cho các Bộ, ngành liên quan chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện nhiều đề án để thực hiện Chỉ thị 36 của Bộ Chính trị. Chỉ riêng năm 2003 đến nay, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo thực hiện nhiều văn bản liên quan đến BVMT... Trên cơ sở sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị 36 của Bộ Chính trị cùng với những tình hình và yêu câù mới đối với công tác BVMT trong giai đoạn phát triển của đất nước từ nay tới 2020, Bộ Chính trị đã thành lập Tiểu ban soạn thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác BVMT nhằm tạo sự chuyển biến mạnh về nhận thức, sự đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện công tác BVMT trong toàn Đảng, toàn dân để đáp ứng các yêu cầu phát triển KT - XH trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thực hiện những mục tiêu và nội dung về BVMT và phát triển bền vững mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra.

    Quá trěnh thực hiện Chỉ thị 36 vŕ các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội đã ngày càng chú ý hơn đến công tác BVMT. Nhận thức và hành động về BVMT trong cộng đồng, trong xã hội được nâng lên rõ rệt. Các yêu cầu về BVMT đã được lồng ghép, trở thành một điều kiện quan trọng không thể thiếu trong nội dung phát triển KT - XH vě sự phát triển bền vững. Do vậy, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác BVMT. Bước đầu hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, có những kết quả nhất định trong việc khắc phục suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường. Trồng và bảo vệ rừng khá hơn sau 10 năm, độ che phủ rừng năm 2003 ước đạt 37,5%, đã quan tâm hơn đến khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.

    Tuy nhięn, bęn cạnh những tiến bộ đã đạt được, công tác BVMT nước ta cňn những tồn tại, yếu kém: Kết cấu hạ tầng kỹ thuật BVMT lạc hậu, nguồn lực BVMT của nhŕ nước vŕ các doanh nghiệp đều bị hạn chế. Dân số tiếp tục tăng cùng với nạn di dân tự do và đói nghèo chưa được giải quyết cơ bản. ý thức BVMT trong xã hội chưa được nâng cao. Tổ chức và năng lực quản lý môi trường chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều nơi và trong nhiều lĩnh vực ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề bức xúc, cần sớm được khắc phục, như: Tình trạng thoái hoá đất đai ở những vùng đất dốc, vùng có độ che đất thấp, nơi sử dụng quá mức phân hoá học; Tình trạng ô nhiễm nước, nhất là ở vùng hạ lưu các sông do nước thải của các cơ sở sản xuất, sinh hoạt chưa được xử lý, thải trực tiếp ra sông, việc khai thác bừa bãi không đúng kỹ thuật làm cạn kiệt và ô nhiễm nước ngầm; Tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị và công nghiệp, trong đó nổi lên vấn đề xử lý nước thải, chất thải rắn, bụi, khí thải, tiếng ồn; Tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém, sử dụng không hợp lý các loại hoá chất trừ sâu trong nông nghiệp, xử lý chưa tốt khí thải và chất thải từ các làng nghề, thiếu nguồn nước hợp vệ sinh để cung cấp cho sinh hoạt; Tình trạng ô nhiễm môi trường biển do tràn dầu, khai thác cạn kiệt tài nguyên gần bờ, diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp; Tình trạng ô nhiễm môi trường lao động như nhiều khu vực sản xuất không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn lao động, độc hại; Tình trạng suy giảm về độ che phủ rừng, thảm thực vật và chất lượng che phủ, suy giảm tính đa dạng sinh học.

    Để giải quyết những vấn đề này, đòi hỏi phải tiếp tục có những giải pháp đồng bộ, chỉ đạo quyết liệt và kiên trì để động viên, thu hút được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ xã hội tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường của chúng ta:

    Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 36 của Bộ Chính trị về công tác BVMT, trong đó chú trọng 4 quan điểm và 8 giải pháp cơ bản, đồng thời tiếp tục thực hiên tốt những văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về BVMT, trong đó lưu ý thực hiện các vấn đề sau đây:

    - Bảo vệ tŕi nguyęn nước vŕ chống ô nhiễm nguồn nước bao gồm nước ở các sông ngňi, nước ngầm, xử lý nước thải, cung cấp nước sinh hoạt.

    - Xử lý chất thải bao gồm chất thải công nghiệp vŕ chất thải sinh hoạt.

    - Bảo vệ vŕ phát triển rừng, tiếp tục triển khai thực hiện tốt Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, nâng độ che phủ rừng lên khoảng 43% vào năm 2010.

    - Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghięm trọng, tôi đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các bộ, ngành liên quan và địa phương tiếp tục rà soát, xác định các cơ sở gây ô nghiễm nghiêm trọng để bổ sung vào danh sách các cơ sở cần xử lý triệt để.

    Hai là, tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường, các cơ chế, chính sách cần thiết để lồng ghép các yêu cầu BVMT ngay từ khâu xây dựng, thẩm định và phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án phát triển. Đồng thời phải tăng cường kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về BVMT.

    Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp thu ý kiến các bộ, ngành hoàn chỉnh, sớm trình Thủ tướng phê duyệt Thủ tướng Chính phủ chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010.

    Các bộ, ngŕnh lięn quan, theo chức năng của mình khẩn trương nghiên cứu, ban hành tiêu chuẩn môi trường ngành để phục vụ công tác quản lý.

    Ba là, chú trọng việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân, cộng đồng doanh nghiệp... về BVMT, coi BVMT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Các ngành, các địa phương, các tổ chức, cộng đồng và từng gia đình, từng người dân phải có trách nhiệm trong việc BVMT; Coi việc BVMT phải là đạo đức, nếp sống văn hoá, giàu tính nhân văn và là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh.

    Bốn là, Việt Nam còn là một nước nghèo, kinh tế còn lạc hậu, đang trong quá trình đẩy mạnh thực hiện CNH, HĐH đất nước. Vậy để đảm bảo sự phát triển bền vững thì vấn đề BVMT cŕng phải được đặc biệt quan tâm hơn. Các điều kiện về môi trường nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề bức xúc chưa được giải quyết, trong khi báo mức độ ô nhiễm sẽ tiếp tục gia tăng. Nhiều mâu thuẫn nẩy sinh giữa các nhu cầu phát triển trước mắt về kinh tế với lợi ích lâu dài về môi trường và phát triển bền vững. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đang đặt ra các yêu cầu ngày càng cao về môi trường. Tác động của các vấn đề về môi trường toàn cầu, khu vực ngày càng lớn và phức tạp. Tất cả những thách thức đó đặt ra cho chúng ta trách nhiệm nặng nề trong việc bảo đảm phát triển bền vững đất nước.

    Năm là, giải quyết vấn đề môi trường không phải làm một lần, một đợt là xong, mà là công việc phải làm thường xuyên, kiên trì và kiên quyết; Bản thân vấn đề môi trường đã mang tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng, cộng đồng nên việc giải quyết vấn đề này phải đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá. Do vậy, cùng với ngân sách hỗ trợ của Nhà nước, các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, các ngành phải huy động được sự tham gia, đóng góp của địa phương mình, ngành mình, từng người dân, từng gia đình, từng cộng đồng, từng doanh nghiệp, từng dự án để bảo vệ tài nguyên môi trường.

    Tôi mong rằng, hội thảo này sẽ thảo luận và rút ra những việc cần làm trước mắt và lâu dài; Những đề xuất, kiến nghị cần thiết với Chính phủ và các bộ, ngành liên quan để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển KT - XH với các yêu cầu BVMT, nhằm phát triển bền vững đất nước, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước...

     

    (*) Trích bài phát biểu tại cuộc Hội thảo " Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam". Tháng 10/2003.

    Trích: Tạp chí Thanh niên VN



     

    Tăng Bá Hoàng
    TT Công nghệ Thông tin
    TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
Page 1 of 1 (1 items)
Trang Web đã đón Hanoi University lượt truy cập kể từ 17/10/2004.
(C) Hanoi University, 2004-2010. (Best view with 1024x768 pixels).
Powered by Community Server (Commercial Edition), by Telligent Systems